Biến đổi khí hậu, đất bạc màu đang đe dọa năng suất lúa, buộc nông dân chuyển sang canh tác bền vững.

Suy giảm đất, ô nhiễm nước và chi phí tăng cao

Sản xuất lúa tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đang đối mặt với nhiều thách thức khi mô hình thâm canh tăng vụ bộc lộ giới hạn về tài nguyên, môi trường và hiệu quả kinh tế. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét, việc chuyển sang hướng sản xuất bền vững không còn là lựa chọn, mà là đòi hỏi cấp thiết.

Chia sẻ với Lao Động, PGS. TS Lê Anh Tuấn – giảng viên cao cấp Khoa Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên, Đại học Cần Thơ – cho biết: “Mô hình sản xuất lúa hiện nay đã đóng góp lớn vào an ninh lương thực quốc gia và xuất khẩu. Tuy nhiên, về lâu dài, còn lo ngại về tính bền vững.

Ông Tuấn phân tích, việc canh tác 3 vụ lúa/năm tạo áp lực lớn lên đất và nguồn nước. Đất không có thời gian nghỉ ngơi, độ phì nhiêu suy giảm, trong khi hệ sinh thái tự nhiên bị thu hẹp.

Việc phụ thuộc vào hệ thống đê bao khép kín cũng làm thay đổi quy luật tự nhiên của lũ, khiến phù sa không còn được bồi đắp như trước. Đây là một trong những yếu tố khiến nền sản xuất lúa ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào phân bón hóa học.

Điều này buộc nông dân ngày càng phải dùng nhiều phân bón và thuốc bảo vệ thực vật để duy trì năng suất, dẫn đến đất thoái hóa nhanh, tồn dư hóa chất tích tụ trong đất và rửa trôi ra kênh rạch, gây ô nhiễm nguồn nước.

Hệ lụy dễ thấy là suy giảm đa dạng sinh học, thiên địch bị tiêu diệt, sâu bệnh ngày càng kháng thuốc, chi phí sản xuất tăng nhưng hiệu quả giảm. Ngoài ra, sự bất ổn của nguồn nước từ thượng nguồn, tác động của thủy điện và biến đổi khí hậu, cùng nhiệt độ tăng và thời tiết cực đoan, khiến nhiều vùng không còn phù hợp trồng lúa quanh năm, đặc biệt ở các tỉnh ven biển.

Tối ưu hiệu quả, giảm rủi ro

Trước tình hình này, ông Tuấn nhấn mạnh cần chuyển từ “tăng sản lượng bằng mọi giá” sang “tối ưu hiệu quả và bền vững”. “Điều quan trọng là áp dụng kỹ thuật ‘1 phải, 5 giảm’, giảm lượng giống gieo sạ, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật; tăng cường phân hữu cơ, cải tạo đất. Đẩy mạnh các mô hình canh tác thích ứng như lúa – tôm, lúa – cá và sử dụng giống lúa chịu hạn, chịu mặn”, ông nói.

Theo ông, những mô hình này giúp giảm chi phí đầu vào, nâng cao giá trị hạt gạo, đáp ứng yêu cầu thị trường xuất khẩu về nông sản sạch và bền vững. Về lâu dài, ông Tuấn cho rằng ngành nông nghiệp cần quy hoạch lại vùng sản xuất phù hợp điều kiện sinh thái, giảm diện tích lúa ở những vùng không còn lợi thế, tăng cường liên kết chuỗi giá trị giữa nông dân – doanh nghiệp – thị trường.

“Quan trọng nhất là đặt người nông dân vào trung tâm quá trình chuyển đổi. Khi họ thấy rõ lợi ích kinh tế từ canh tác bền vững, họ sẽ chủ động thay đổi”, ông Tuấn nhấn mạnh.

Ông cũng cho rằng việc đầu tư vào khoa học công nghệ và chuyển giao kỹ thuật là yếu tố then chốt để nâng cao năng suất, giảm rủi ro và thích ứng biến đổi khí hậu.

Theo Báo Lao Động.